Tel: 04.3382.4424

Email: hoidongyhn@gmail.com

Trang nhất » Hội đông y Hà Nội »


Diễn văn kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (8/4/2016)


 

Kính thưa các vị khách quí

 

Kính thưa các vị lương y lão thành, các vị đại biểu.

         Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Đông y Việt

Nam ra đời tồn tại và phát triển cùng với sự trưởng thành và phát triển của đất nước Việt Nam, đã đóng góp tích cực vào việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giữ gìn giống nòi dân tộc Việt Nam.

Thế kỷ thứ X khi vua Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long đã thành lập Ty thái y, đây là dấu ấn đầu tiên đánh giá vai trò, vị trí, sự cần thiết và trưởng thành của Đông y Việt Nam trước nhiệm vụ của đất nước.

Từ đó đến nay, Đông y Việt Nam đã phát huy được vai trò của mình trong phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch, nâng cao sức khỏe cho nhân dân, hệ thống màng lưới Hội Đông y trong cả nước đã được củng cố và phát triển, những thầy thuốc Đông y giỏi, quá nho thành Y đã được tập hợp để chữa bệnh, sưu tầm dược liệu, viết sách để lại cho hậu thế.

Những thầy thuốc Đông y nổi danh thông qua các trước tác còn lưu giữ được như: Thiền sư Tuệ Tĩnh, Đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Lương dược hầu Hoàng Đôn Hòa, Nguyễn Đại Năng, Đào Công Chính, Phạm Công Bân...đến thế kỷ thứ XIX đã có 59 danh y để lại cho đất nước 61 tác phẩm y học đầy đủ lý, pháp,phương, dược. Các sách bệnh học Đông y, dược vật, phương pháp bào chế, chế biến thuốc, châm cứu, dưỡng sinh; đặc biệt là đã viết rất kỹ về y đức, trách nhiệm của người thầy thuốc với người bệnh thành 9 điều y huấn cách ngôn của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông.

Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, năm 1905 thực dân Pháp xóa bỏ Ty Lương y, đồng thời chúng cấm không cho Đông y hoạt động; nhưng các thầy thuốc Đông y nước ta vẫn khám chữa bệnh chăm sóc sức khỏe cho quân và dân bằng cây thuốc, vị thuốc sẵn có ở mọi miền của tổ quốc.

Năm 1920 các thầy thuốc Đông y và nhân dân đấu tranh đòi quyền được chữa bệnh bằng Đông y, thực dân Pháp buộc phải cấp phép cho hơn 500 môn bài cho các Lương y hành nghề chữa bệnh cho nhân dân.

Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 22 tháng 8 năm 1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh giao cho Bộ Nội Vụ ban

hành Nghị định số 337/NV-DC thành lập Hội nghiên cứu Nam dược tiền thân là Hội Đông y ngày nay, trụ sở tại 75 Hàng Bồ, Hoàn Kiếm Hà Nội.

 

 Ngày 7 tháng 11 năm 1946 thành lập Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hội Nghiên cứu nam dược đã gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng và mong muốn Chính phủ sớm đưa nước nhà đến hoàn toàn độc lập, thống nhất, phú cường và đề nghị Chính phủ tiếp tục giúp đỡ nhiều hơn nữa cho Hội Nghiên cứu nam dược, để hội tiến bộ phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, nhân dân ta tiếp tục cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, Hội nghiên cứu nam dược được đổi tên là Hội Đông y

cứu quốc; ngay sau đó thành lập Hội Đông y cứu quốc ở Nam bộ, tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Thanh Hóa.

Năm 1948 Bộ y tế đã thành lập Ban nghiên cứu Đông y.Các tỉnh Liên khu 4 đã thành lập xưởng bào chế sản xuất các loại thuốc Đông y như:Thuốc chữa cảm mạo, thuốc chữa sốt rét, thuốc chữa ỉa chảy và một số loại thuốc khác phục vụ quân đội và nhân dân trong kháng chiến.

Ở Nam Bộ, các thầy thuốc Đông y đã xây dựng toa căn bản gồm 10 vị thuốc nam để phổ biến cho nhân dân chữa 7 bệnh 7 chứng thường gặp ở cơ sở.

Năm 1954 hòa bình được lập lại, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, bắt đầu đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội; dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Đông y đã được quan tâm, từng bước được củng cố và phát triển.

Ngày 3 tháng 6 năm 1957, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định 399/NV-DCNĐ

tái thành lập Hội Đông y Việt Nam ở 32 tỉnh, từ Vĩnh Linh trở ra với 4 cấp

Hội từ Trung ương đến cơ sở.

Ngày 15 tháng 3 năm 1961 Thủ Tướng ban hành Chỉ thị 101/TTg “Về việc tăng cường công tác Đông y”.

Ngày 6 tháng 12 năm 1966 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 210-TTg/VG “Về việc khai thác và phát triển cây thuốc và động vật làm thuốc”.

Ngày 19 tháng 2 năm 1967 Hội đồng Chính phủ ban hành Chỉ thị 21/CP “về việc tăng cường công tác nghiên cứu Đông y và kết hợp Đông y với Tây y”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ chiến sĩ vượt Trường Sơn vào miền Nam đánh Mỹ; Hội Đông y Việt Nam đã tổ chức các lớp tập huấn ngắn ngày tại chùa Bộc, Đống Đa, Hà Nội cho cán bộ chủ chốt của các đơn vị trước khi vào chiến trƣờng về cách nhận biết, sử dụng những cây thuốc sẵn có trong rừng núi để chữa bệnh thường gặp như: Cảm sốt, chữa rắn cắn, ỉa chảy, rốt rét, ho, đau nhức xương khớp và một số cây thuốc cầm máu khi bị thương...đặc biệt là hướng dẫn một số cây dùng để lấy nước uống hồi phục lại sức khỏe khi hành quân mệt nhọc trong rừng núi...

Tại chiến trường miền Nam các thầy thuốc Đông y đã sưu tầm và hướng dẫn các cây thuốc vị thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho đồng bào và chiến sĩ ta khắp mọi vùng miền các tỉnh miền Nam; nhờ đó mà quân và dân ta đã nâng cao được sức chịu đựng gian khổ trong rừng sâu, núi cao, sình lầy và hầm tối mà vẫn đủ sức khỏe chiến đấu với quân thù.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, nước nhà thống nhất; ngày 19 tháng 10 năm 1978 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết 266-CP “Về việc phát triển y học dân tộc cổ truyền kết hợp chặt chẽ với Y học hiện đại, nhằm xây dựng nền Y học Việt Nam”.

Ngày 30 tháng 9 năm 1981 Ban bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 118/CT/Tư “Về việc củng cố tổ chức và tăng cường công tác của Hội y học cổ truyền (Hội Đông y Việt Nam) trong giai đoạn mới”, nhằm kiện toàn bộ máy lãnh đạo Hội ở Trung ương để đủ sức lãnh đạo Đông y cả nước và thành lập hội ở 3 cấp: Tỉnh, huyện và xã của các tỉnh miền Nam (mới được giải phóng) theo địa giới hành chính mới của nước ta.

Trong thời kỳ đổi mới, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Chỉ thị 25/1999/TC/TTg ngày 30 tháng 8 năm 1999 “Về việc đẩy mạnh công tác Y, dược học cổ truyền”.

Ngày 3 tháng 11 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 222/QĐ-TTg “Phê duyệt Chính sách Quốc gia về Y dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2010”.

Ngày 23 tháng 2 năm 2005 Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng

cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết 46-NQ/TW “Về công tác bảo vệ,

chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”; trong nhiệm vụ và giải pháp nhấn mạnh: "Đẩy mạnh việc nghiên cứu thừa kế, bảo tồn và phát triển y dược học cổ truyền thành một ngành khoa học".

Ngày 4 tháng 7 năm 2008 Ban Bí thƣ Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ban hành Chỉ thị 24/CT/TW “Về phát triển nền Đông y và Hội Đông y

Việt Nam trong tình hình mới”; trong 5 quan điểm chỉ đạo và 9 nhiệm vụ của Chỉ thị đã nêu rõ những công việc trước mắt và lâu dài của các cấp hội, trách nhiệm của các Bộ, Ban Ngành ở Trung ương và cấp ủy Đảng, Chính quyền các địa phương.

Ngày 1 tháng 11 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

68/QĐ-Ttg “Quy định hội có tính chất đặc thù”, trong đó Hội Đông y là một

trong 28 Hội được công nhận là Hội có tính chất đặc thù của cả nước.

Ngày 30 tháng 11 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2166/QĐ-TTg “Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển Y dược học cổ truyền Việt Nam đến năm 2020”.

Ngày 01 tháng 06 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định30/2011/QĐ-TTg “Về chế độ thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các Hội”.

Ngày 30 tháng 10 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1976/QĐ-TTg “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm

2020 và định hướng đến năm 2030”.

Ngày 14 tháng 2 năm 2014 Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam họp sơ kết 5 năm tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị 24/CT/TW về "Phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới", sau đó ban hành Kết luận 154/KT-TW chỉ đạo các Bộ Ngành ở Trung ương, cấp ủy Đảng và Chính quyền các địa phương khắc phục những hạn chế, tồn tại, tiếp tục thực hiện thành công các nội dung trong Chỉ thị 24/CT/TW.

Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam từ khóa III đến khóa XII, trong Nghị quyết của các kỳ Đại hội đều đánh giá cao vai trò của Đông y trong thừa kế, phát huy, phát triển, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong các thời kỳ của cách mạng.

Thực hiện các Luật của Quốc hội; các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và các Quyết định của Chính phủ; cán bộ hội viên Hội Đông y cả nước đã không ngừng phát huy sức mạnh của mình để củng cố tổ chức, thừa kế, phát huy, phát triển Đông y và tổ chức khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đã đạt đợc những kết quả sau:

 

Công tác tổ chức hội.

Cấp tỉnh 63/63 tỉnh thành phố đã có tổ chức Hội, có cán bộ trong biên chế nhà nước, tổ chức Hội các cấp đã được kiện toàn, bổ sung thêm cán bộ có

năng lực về chuyên môn, về quản lý vào Ban chấp hành, đồng thời nâng cao

được trình độ tổ chức quản lý Hội.

Cấp Huyện: Đã có 613/696 huyện thị có tổ chức Hội. Cấp Xã: Đến nay đã có 6.180/11.070 Hội Đông y cấp xã chiếm 55,82%

tổng số xã phường. Các đơn vị trực thuộc Trung ương đến nay đã có 30 đơn vị. Số lượng hội viên: Năm 1946 khi mới thành lập có gần 300 hội viên đến nay đã có 70.135 hội viên, trong đó 45 dân tộc có hội viên Đông y; Đặc biệt có những xã phường có trên 400 hội viên.

 

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho hội viên:

Từ năm 1967 - 1972 thực hiện Chỉ thị 21/CP ngày 19 tháng 2 năm 1967 của Hội đồng Chính phủ, Trung ương Hội đã tổ chức các lớp hàm thụ Đông y được 6 đợt cho 9.355 cán bộ hội viên trong cả nước; Để kết hợp chặt chẽ giữa Đông y với Tây y trong khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học; Bộ y tế đã chỉ đạo Ty y tế các tỉnh, thành phố, phối hợp với Hội Đông y tổ chức bồi dưỡng một số kiến thức cơ bản Đông y cho thầy thuốc Tây y và Lương y học một số kiến thức cơ bản trong chẩn đoán cấp cứu của Tây y, thời kỳ đó phong trào học tập lẫn nhau giữa Đông y và Tây y của đội ngũ cán bộ y tế và hội viên Đông y trong cả nước sôi nổi, đều khắp ở các tỉnh miền Bắc.

Năm 2002 Ban chuyên môn Trung ương Hội đã xây dựng chương trình bồi dưỡng Lương y chuyên sâu với 16 chứng chỉ theo hướng đa khoa Đông y; đã tiến hành bồi dưỡng chuyên sâu được 31 khóa cho hơn 3.175 học viên, các tỉnh thành Hội đã tổ chức bồi dưỡng chuyên đề ngắn hạn cho 35.194 lượt hội viên.

 

Công tác tu thư,biên dch:

Năm 1960 - 1975 Viện nghiên cứu Đông y Trung ương đã tập hợp gần 50 Lương y giỏi của cả nước, tập trung dịch thuật các bộ sách kinh điển như: Nội kinh, Nạn kinh, Kim quĩ yếu lược, Thương hàn luận, Ôn bệnh, Linh khu tố vấn, Trung y nội khoa, Hải thượng y tôn tâm lĩnh, Hồng nghĩa giác tu y thư, Nam dược thần hiệu...đã giúp cho công tác thừa kế, nghiên cứu, áp dụng Đông y vào khám chữa bệnh cho nhân dân đạt được nhiều kết quả. Viện Châm cứu Trung ương biên soạn quyển Châm cứu cơ sở, Mãng châm chữa bệnh...

Từ năm 2001- 2007 Trung ương Hội Đông y đã biên soạn hoàn chỉnh bộ sách Đông y gồm 11 đầu sách: Hán văn Đông y, Chẩn đoán học, Các phương pháp trị liệu của Đông y, Bệnh học nội khoa, Bệnh học ngoại khoa, Bệnh học Phụ khoa, Bệnh học nhi khoa, Bệnh học ngũ quan Đông y, Bào chế, Phương tễ học và Các bài thuốc cổ phương.

Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân:

Trong suốt quá trình hoạt động của mình, Hội lấy nhiệm vụ trọng tâm là khám chữa bệnh bằng phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc làm thước đo sự tồn tại, trưởng thành và phát triển của Hội. Những năm 1970 phong trào thuốc nam châm cứu phát triển mạnh, tất cả các xã phường có vườn thuốc nam, các trạm y tế xã phường đều có bộ phận

Đông y để chữa bệnh cho nhân dân bằng thuốc nam, châm cứu; đặc biệt sử

dụng thuốc nam chống dịch sốt xuất huyết, tất cả các vùng có dịch đều sử dụng  thuốc nam để chữa bệnh đã giải quyết được cơ bản các vụ dịch. Hệ thống phòng chẩn trị Đông y của các cấp Hội: Các phòng chẩn trị Đông y huyện thị, xã phường và các hợp tác xã thuốc Nam trong cả nước đã hoạt động tốt đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, trong thời kỳ bao cấp được nhà nước cung cấp chế độ như cán bộ viên chức, đã động viên được đội ngũ thầy thuốc Đông y yên tâm đem hết tài năng và trí tuệ, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân.

Các bệnh viện đa khoa từ Trung ương đến Huyện, thị đều có khoa Đông y, đã mời được nhiều Lương y có tay nghề cao vào bệnh viện để khám chữa

bệnh. Đến năm 2015 cả nước vẫn duy trì hoạt động tốt của hơn 10.000 Phòng chẩn trị và Trung tâm Đông y của các cấp Hội và hội viên; 7 bệnh viện tư nhân,viện Y học cổ truyền Trung ương và 52 bệnh viện Y học cổ truyền tuyến tỉnh đã đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân từ cơ sở, các hội viên Đông y là những người gần dân nhất, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn mà y tế chưa vươn tới được, đã góp phần thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.

 

Công tác phát triển dược liệu.

Những năm 1960-1970 phong trào thuốc nam châm cứu phát triển mạnh, ở các tỉnh miền Bắc, tất cả các xã phường đều có vườn thuốc nam, các trạm y tế xã phƣờng có bộ phận Đông y để chữa bệnh cho nhân dân bằng thuốc nam châm cứu; nhiều xã có khu chưng cất tinh dầu Hương nhu, Bạc hà, Quế để làm thuốc và xuất khẩu..

Thực hiện Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2013 của  Thủ Tướng Chính phủ “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”; Trung ương Hội Đông y Việt Nam đã chỉ đạo các cấp Hội hướng dẫn cho các thầy thuốc Đông y, các ông lang bà mế tăng cường sưu tầm, phát hiện, phát triển nguồn dược liệu ở các địa phương, tìm biện pháp, bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu hiện có của các tỉnh thành phố; phát triển các loại dược liệu sở trường của từng thầy thuốc Đông y của từng vùng; lập bản đồ dược liệu, mục tiêu không để mất đi những cây thuốc quí; đồng thời tích cực bồi dưỡng kiến thức thuốc nam, thuốc dân tộc cho đội ngũ cán bộ hội viên để có nhiều thầy thuốc hiểu biết thêm về cây thuốc, vị thuốc hiện có ở từng địa phương nhằm bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu phong phú của nước ta; cho đến nay việc trồng hái chế biến và sử dụng thuốc nam ở các tỉnh Nam bộ vẫn duy trì và phát triển tốt, các tỉnh miền núi nơi có nhiều ông lang bà mế vẫn sưu tầm thu hái sử dụng thuốc nam chữa bệnh cho nhân dân.

 

Công tác nghiên cứu, kế thừa, phát huy, phát triển đông y

Thực hiện Chỉ thị 21/CP Công ngày 19 tháng 2 năm 1967 Hội đồng Chính phủ“Về việc tăng cường công tác nghiên cứu Đông y và kết hợp Đông y với Tây y, đẩy mạnh công tác thừa kế".

Năm 1972 hội nghị tổng kết công tác thừa kế đã thu thập được trên 20.000 bài thuốc, môn thuốc chữa bệnh của các thầy thuốc Đông y.

Năm 2013 Trung ương Hội đã tổ chức Hội thảo khoa học những môn thuốc, bài thuốc của các dân tộc các tôn giáo Việt Nam, đã tuyển chọn được 88 bài thuốc chữa bệnh có hiệu quả của các dân tộc các tôn giáo Việt Nam. Đến nay các tỉnh thành phố đã tập hợp được 37.785 bài thuốc hay môn thuốc quí của các dân tộc, một số tỉnh in thành sách phổ biến cho cán bộ hội viên.

Công tác nghiên cứu khoa học bước đầu các tỉnh thành phố đã gắn kết chặt chẽ giữa công tác thừa kế đánh giá các bài thuốc có hiệu quả ở địa phương và nghiên cứu khoa học. Đến nay Hội Đông y trong cả nước đã và đang triển khai nghiên cứu 669 đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó: Cấp bộ 9 đề tài, cấp tỉnh 83 đề tài, cấp cơ sở 579 đề tài.

 

Tạp chí Đông y.

Tạp chí Đông y là cơ quan ngôn luận của Trung ương Hội Đông y Việt Nam, xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ công tác Hội, Ban biên tập không ngừng được củng cố, nâng cao chất lượng nội dung tạp chí; sắp xếp, bố cục hợp lý, tin bài đăng tải đạt yêu cầu; nội dung phong phú, đa dạng, chất lượng cao; mang tính hàn lâm về Đông y, Đông dược; kịp thời phản ánh được tính cấp thiết phục vụ chuyên môn, tính thời sự trong xã hội; tạp chí còn là kênh thông tin về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời trao đổi chuyên môn học thuật Đông y, nhằm cập nhật và nâng cao kiến thức cho cán bộ hội viên, đáp ứng nhu cầu của độc giả; mặt khác, tạp chí Đông y được tính thang điểm trong các hội đồng học hàm, học vị Nhà nước.

Các phong trào thi đua nhân điển hình tiên tiến và khen thưởng.

Trung ương hội Đông y Việt Nam đã phát động các phong trào thi đua trong toàn hệ thống Hội, thường xuyên tổ chức các hội nghị thi đua yêu nước, nhân điển hình tiên tiến toàn quốc: Với những thành tích trong kế thừa, nghiên cứu, phát huy, phát triển Đông y, trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, cùng với sự nghiệp phát triển của đất nước, Hội Đông y Việt Nam đã được Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, tặng bức trướng với nội dung:

 

"Y đức trong sáng, y thuật chuyên sâu                                        

Vì sự nghiệp Đông y, Vì sức khỏe nhân dân".

Nhà nước tặng thưởng:

- 2 Huân chương Độc lập hạng nhất.

- 17 Huân chương lao động hạng nhất.

- 34 Huân chương lao động hạng nhì.

- 29 Huân chương lao động hạng ba.

- 26 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

- 718 bằng khen của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Nhà nước đã phong tặng các danh hiệu: 09 Thầy thuốc nhân dân, 01 Nhà giáo nhân dân, 57 Thầy thuốc ưu tú và nhiều hình thức khen thướng khác cho cán bộ, hội viên của hội.

 

 

Kính thưa các vị đại biểu:

 

Trên con đường phấn đấu và trưởng thành của Hội Đông y Việt Nam, có sự phấn đấu và trưởng thành của Hội Đông y các tỉnh, thành phố và một trong những đơn vị tiêu biểu là Hội Đông y thành phố Hà Nội.

Hội Đông y thành phố Hà Nội được thành lập ngày 7/11/1960 theo Quyết định số:2530-QĐ/PC của Ủy ban hành chính Thành phố. Hội Đông y Hà Nội là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, tập hợp những người hành nghề Đông y để kế thừa, phát huy, phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam phục vụ sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Trải qua gần 60 năm phấn đấu và trưởng thành, Hội đã thu được nhiều thành tựu rất đáng tự hào trên các mặt công tác: Xây dựng và phát triển tổ chức. Kế thừa những bài thuốc hay, những kinh nghiệm quí, phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Sưu tầm, bảo tồn cây thuốc. Bồi dưỡng chuyên môn, tu thư dịch thuật và nghiên cứu khoa học.

* Về công tác củng cố tổ chức hội.

Khi mới thành lập (năm 1960) Hội mới có 500 hội viên, đến năm 2008 thực hiện Nghị quyết số: 15/2008/NQ/QH của Quốc hội, tỉnh Hà Tây hợp nhất với Thành phố Hà Nội, Hội Đông y Hà Nội cũng hợp nhất với Hội Đông y tỉnh Hà Tây thành Hội Đông y thành phố Hà Nội có qui mô lớn hàng đầu Hội Đông y cả nước. Màng lưới hội đến nay đã phủ kín các quận, huyên:  Thành hội có: 17 vị thường vụ, 08 vị thường trực, 01 chủ tịch và 05 phó chủ tịch. Cơ quan Thành hội được Thành phố bố trí trụ sở ở số: 01 Bà triệu- Hà Đông, cán bộ chuyên trách có trên 24 người hưởng lương được chia thành 05 ban: Ban tổ chức, chỉ đạo tuyến, ban Thông tin truyền thông, ban Chuyên môn, ban Kinh tế và ban Kiểm tra.  Hội tích cực trong chỉ đạo về xây dựng củng cố tổ chức màng lưới Hội, phát triển hội viên.Tổng số đơn vị trực thuộc thành Hội là 40  bao gồm, 30 quận, huyện, thị Hội và 10 hội, chi Hội trực thuộc;  có 182 Hội Đông y, chi Hội Đông y liên xã, phường đến đầu năm 2015 có 4580 hội viên, 01 Trung tâm thừa kế ứng dụng đông y, gần ngìn phòng chẩn trị của hội viên. Các đơn vị trực thuộc Thành hội được chia thành 7 cụm, để tiện sinh hoạt, học tập trao đổi kinh nghiệm hoạt động hội.

 

* Công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội : 

Trong quá trình hoạt động, làm việc với  các cấp Hội cơ sở, Hội đã tập hợp những bất cập nảy sinh trong thực tế để  tư vấn, phản biện tham gia ý kiến xây dựng các chủ trương chính sách về Đông y, Đông dược:

- Đã báo cáo với Trung ương Hội Đông y và Bộ y tế về những bất cập trong việc chưa có mã ngạch và mã ngành đào tạo đối với lương y, lương dược, chưa có chương trình chuẩn hóa lương y thống nhất trong cả nước.

          -  Phản ánh những bất cập trong việc cấp phép hành nghề cho lương y trong lĩnh vực YHCT.

          - Tham mưu, tư vấn cùng Sở y tế xây dựng dự thảo Kế hoạch Phát triển y, dược cổ truyền thành phố Hà Nội đến  năm 2020 thực hiện Chỉ thị 24-CT/TW và Quyết định 2166-QĐ/TTg  trình UBND Thành phố phê duyệt

          - Tư vấn về phòng bệnh, chữa bệnh bằng YHCT cho nhân dân trên các phương tiện truyền thông như Báo, Đài phát thanh, truyền hình Trung ương và Hà Nội, trên trang Website, Bản tin nội bộ của Hội, trên Đài truyền thanh tại các quận, huyện, xã, phường…

 

* Công tác thừa kế, phát huy, phát triển Đông y, nghiên cứu khoa học

Hàng năm Hội  thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn chuyên đề về phòng chống dịch bệnh, chẩn đoán điều trị bệnh bằng Đông y. Năm 2013 Hội đã tổ chức hội thảoThừa kế bài thuốc hayđược cán bộ, hội viên của Hội hưởng ứng tích cực, đã cống hiến 117 bài thuốc, môn thuốc và phương pháp chữa bệnh có hiệu quả. Hội đồng của Hội đã tuyển chọn được 10 bài thuốc tiêu biểu gửi Trung ương Hội Đông y Việt Nam xét chọn in sách v.v

  Các quận, huyện, thị Hội đã tổ chức học tập chuyên môn, thảo luận chuyên đề, các bài thuốc kinh nghiệm được đăng trong các bản tin nội bộ của Hội và trong tạp chí Đông y Việt Nam được các hội viên học tập, trao đổi . Một số Hội Đông y quận, huyện, thị mời các Giáo sư, Tiến sĩ, Lương y tiêu biểu về truyền đạt kinh nghiệm khám chữa bệnh. Phối hợp với Phòng y tế, Trung tâm y tế tiến hành tập huấn, hội thảo kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại trong phòng bệnh, điều trị các bệnh thường gặp,  các bệnh theo mùa: bệnh tiêu chảy cấp, cúm A/H1N1, cúm A/H5N1 v.v… . Các chi hội Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội, Hà Đông, Khoa YHCT Bệnh viện Đa khoa Xanh pôn, Thanh Nhàn, Hà Đông đã tích cực tham gia hướng dẫn giảng lâm sàng cho hàng ngàn lượt học sinh, sinh viên các Trường y khoa của Trung ương và Thành phố đến thực tập tại cơ sở.

 Hội đã hoàn thành  hàng chục đề tài nghiên cứu khoa học, riêng Cơ quan Thành hội đã nghiên cứu và hoàn thành xuất sắc  04 đề tài nghiên cứu khoa học, năm 2010-2012 đề tài “ Đánh giá thực trạng chất lượng một số dược liệu thường dùng trong thuốc cổ truyền trên địa bàn Hà Nội”.  Đề tài đã được Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố đã nghiệm thu đạt loại xuất sắc, Hội đồng nghiệm thu đánh giá đề tài có giá trị thực tiễn và khoa học cao, từ kết quả của đề tài Bộ Y tế đã có nhiều đợt kiểm tra để đánh giá chất lượng dược liệu trên phạm vi cả nước, từ đó  góp phần để các Bộ, Ngành có các chính sách quản lý để nâng cao chất lượng dược liệu sử dụng trong khám chữa bệnh; Năm 2012-2014.

 

* Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân:                    

Hội Đông y Thành phố có màng lưới cán bộ, hội viên từ thành phố đến cơ sở xã phường hệ thống khám chữa bệnh của các cấp hội gồm: 01 Trung tâm thừa kế ứng dụng,02 Bệnh viên YHCT công lập, gần ngìn  phòng chẩn trị của tập thể và của hội viên. Đa số các hội viên hành nghề đã chấp hành theo Luật khám bệnh, chữa bệnh, góp phần trong việc giảm tải cho y tế công lập, đỡ tốn kém kinh phí của người bệnh, tạo sự bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân và xã hội hóa công tác y tế.

Hàng năm các phòng chẩn trị của Hội đã khám chữa bệnh bằng Đông y cho trên 2 triệu lượt bệnh nhân, trong đó có khoảng 1/3 số người  được khám chữa bệnh bằng phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt v.v… đã kết hợp tư vấn sức khỏe cho hàng triệu lượt  người, sử dụng hàng trăm tấn dược liệu, hàng chục tấn thuốc cao đơn, hoàn tán v.v….

 

* Công tác bảo tồn, phát triển nguồn dược liệu, sản xuất, bào chế, chế biến thuốc Đông dược:

 Nguồn dược liệu của Hà Nội rất phong phú ở khắp vùng, miền, nhất là ở các huyện Ba Vì, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Sóc Sơn v.v… Việc khai thác hợp lý, kết hợp bảo tồn để duy trì nguồn dược liệu phục vụ chữa bệnh đang là vấn đề cấp bách cần đặt ra hiện nay. Nhận thức rõ điều này các cấp Hội đã vận động hội viên xây dựng tủ thuốc xanh, kết hợp khai thác với nuôi trồng dược liệu giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp, tham gia trồng cây thuốc tại Trạm y tế, trường học, vuờn nhà, trong chậu cảnh v.v… với phương châm “Khi đói làm rau, khi đau làm thuốc”  có hội viên đã trồng hàng chục hecta cây ăn quả xen lẫn cây thuốc Nam, kết hợp hướng dẫn nhân dân trồng cây vừa làm rau vừa làm thuốc, vừa làm cảnh vừa làm thuốc; Vận động hội viên trồng cây thuốc tại gia đình hoặc nhóm thuốc liên gia đình phục vụ chữa bệnh. Các cấp Hội đã tích cực phối hợp với y tế cơ sở trồng cây thuốc tại Trạm y tế xã, phường theo quy định của Bộ y tế, hướng dẫn sử dụng cây thuốc, tham gia chuẩn quốc gia y tế xã, phường như quận Hội Long Biên, Bắc Từ Liêm phối hợp với Trung tâm y tế tuyên truyền hướng dẫn trồng, sử dụng cây thuốc tại Trạm y tế phường; Hội Đông y Chương Mỹ xây dựng mô hình Trồng và sử dụng thuốc Nam ; Hội Đông y Ba Vì phối hợp với phòng Nội vụ thương binh lao động huyện tổ chức lớp dạy nghề kỹ thuật trồng và chế biến thuốc nam cho cán bộ, hội viên và lao động nông thôn trong huyện; thôn Yên Sơn xã Ba Vì được công nhận làng nghề thuốc nam cổ truyền - dân tộc do UBND thành phố phê duyệt. Hội Đông y huyện Mỹ Đức triển khai mô hình trồng thuốc nam chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho kết quả gấp nhiều lần so với trồng lúa. Hội Đông y huyện Sóc Sơn phát triển thuốc nam ở gia đình hội viên phù hợp với địa bàn trung du. Hội Đông y huyện Thanh Trì là địa phương có truyền thống trồng dược liệu di thực từ nhiều năm đến nay vẫn phát triển như: trồng bạch chỉ, đương qui, bạch truật.  Hợp tác xã thuốc nam Chùa bộc nhiều năm đã chủ động nuôi trồng và sử dụng các loại dược liệu bằng thuốc Nam có hiệu quả cao trong chữa bệnh; Quận Hội Cầu Giấy cùng một số hội viên đã tham gia trồng, chăm sóc các vườn thuốc với diện tích hàng chục hecta tại địa bàn thành phố và  tỉnh Quảng Ninh v.v…Đến cuối năm 2014 toàn Thành phố đã sưu tầm được hơn 500 cây thuốc và trồng được hơn 700 vườn thuốc.

 

*Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, đào tạo cán bộ, hội viên

Hội Đông y là tổ chức xã hội nghề nghiệp tập hợp những người hành nghề Đông y, những người say mê tìm hiểu về Đông y với tính nghề nghiệp đặc thù đa dạng về dân tộc, tôn giáo, về lứa tuổi, tầng lớp, nhiều trình độ chuyên môn học thuật. Để phù hợp với tính đa dạng đó Hội đã phối, kết hợp với các cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viện như Trung  ương Hội Đông y, Trung ương Hội châm cứu, Trường Trung cấp y dược Tuệ Tĩnh, Bệnh viện YHCT,  khoa YHCT của các Bệnh viện trên địa bàn thành phố tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn Đông y theo nhiều loại hình học tập: như đào tạo chính quy, dạy nghề, truyền nghề,…với thời gian học 24 tháng, 12 tháng, 6 tháng, 03 tháng. Hàng năm Hội thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn bổ sung kiến thức Đông y cho hội viên nhằm nâng cao học thuật để xây dựng đội ngũ hội viên kế thừa giỏi về y thuật, tốt về Y đức cũng như  đáp ứng nguyện vọng của hội viên giúp họ gắn kết với Hội. Nhiệm kỳ qua Hội đã phối hợp mở được 26 lớp đào tạo, bồi dưỡng (11lớp y sĩ YHCT, 06  lớp lương y cơ sở, 05 lớp kỹ thuật viên châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, 04 lớp tác động cột sống) tổng số có 1.635 lượt học viên tham dự, trong đó học viên các lớp Y sĩ YHCT  là 794, các loại hình khác là 841.  Các học viên sau khi ra trường đã bổ sung thêm cho xã hội nguồn nhân lực đã được đào tạo chuẩn hóa để phục vụ sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

 

* Công tác tu thư dịch thuật

  Hội đã phối hợp dịch thuật, tập hợp, biên tập, in hàng chục đầu sách chuyên môn, những năm gần đây đã biên tập, biên dịch và  phát hành 09 đầu sách chuyên môn gồm : Danh nhân danh y Hoàng Đôn Hòa, bộ sách  1000 bài thuốc và đề tài nghiên cứu khoa học của thầy thuốc Đông y Hà Nội ” bộ sách được biên tập, in ấn phát hành để chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nộ; Bộ sách gồm 05 tập Sinh bệnh lý và luận trị  Tạng Tâm, Can, tỳ, phế, thận ” ; “Cẩm nang chăm sóc sức khỏe cộng đồng tập 1 và tập 2. các cuốn sách đã giúp cho cán bộ, hội viên nghiên cứu, học tập nâng cao kiến thức chuyên môn hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh cũng như cách xử trí, điều trị kết hợp Đông - Tây y.

Những thành tích của Hội trong gần 60 năm phấn đấu và trưởng thành đã được Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp ghi nhận, và tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quí như: Huân chương Lao động Hạng 3, Huân chương Lao động Hạng nhì, Huân chương Lao động Hạng nhất lần thứ 2, cờ thi đua xuất sắc của TW hội, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Cờ thi đua xuất sắc, Bằng khen của UBND Thành phố và nhiều phần cao quí khác giành cho các tập thể và cá nhân.

 

Kính thưa các vị đại biểu:

 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự quan tâm giúp đỡ của cấp ủy Đảng, Chính quyền các địa phương; Hội Đông y Việt Nam nói chung và Hội Đông y thành phố Hà Nội nói riêng đã không ngừng được củng cố và phát triển. Tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, làm tốt công tác kế thừa, phát huy, phát triển Đông y, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa Đông y với Tây y, cùng ngành Y tế tăng cường chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, mang lại hiệu quả thiết thực tới đời sống hàng ngày của mọi người dân ở tất cả các vùng miền của Tổ Quốc. Ngày nay, trước vận hội mới của đất nước, toàn thể cán bộ, hội viên Hội Đông y Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống quí báu của Hội, không ngừng học tập y đức, rèn luyện y thuật, hết lòng phục vụ sức khỏe nhân dân, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghiã.

 

                       Xin trân trọng cám ơn!